Thứ Hai, 16 tháng 4, 2018

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Công ty Luật TNHH IMC - Hãng luật IMC
Phòng 1107, Tháp A, Tòa nhà 173 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Ls. Phan Minh Thanh - 0968.829.818
Ls. Nguyễn Mạnh Cường - 0912.292.505
LH: 0969.857.762

Theo quy định của pháp luật luật hiện hành, tranh chấp đất đai giữa các đương sự được xác định giải quyết như sau:
1. Hòa giải tranh chấp:
Khi xảy ra tranh chấp đất đai, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp mà các bên không hòa giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình;  trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
2. Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
- Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
- Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
+ Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
+ Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
- Trường hợp tranh chấp đất đai được các bên đương sự đưa ra giải quyết tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền thì người giải quyết phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Kết luận: Như vậy, khi xảy ra tranh chấp đất đai, các bên đương sự có thể lựa chọ giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật hiện nay bao gồm Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án cấp có thẩm quyền.

Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2018

VỀ HẠN MỨC SỬ DỤNG ĐẤT

Công ty Luật TNHH IMC - Hãng luật IMC
Phòng 1107, Tháp A, Tòa nhà 173 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.
Ls. Phan Minh Thanh - 0968.829.818
Ls. Nguyễn Mạnh Cường - 0912.292.505
LH: 0969.857.762

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật đất đai liên quan thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định rõ cho từng loại đối tượng.  Hạn mức đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với từng loại đất cũng được quy định cụ thể:
A. Đối với đất nông nghiệp:
Hạn mức giao đất nông nghiệp được quy định tại điều 129 Luật đất đai năm 2013, theo đó:
1. Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp như sau:
a) Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;
b) Không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác.
2. Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.
3. Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 héc ta đối với mỗi loại đất:
a) Đất rừng phòng hộ;
b) Đất rừng sản xuất.
4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 05 héc ta.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm không quá 05 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 25 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì hạn mức giao đất rừng sản xuất không quá 25 héc ta.
5. Hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không quá hạn mức giao đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này và không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
6. Hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, làm muối thuộc vùng đệm của rừng đặc dụng cho mỗi hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.
7. Đối với diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng ngoài xã, phường, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì hộ gia đình, cá nhân được tiếp tục sử dụng, nếu là đất được giao không thu tiền sử dụng đất thì được tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp của mỗi hộ gia đình, cá nhân.
Cơ quan quản lý đất đai nơi đã giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân gửi thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi hộ gia đình, cá nhân đó đăng ký hộ khẩu thường trú để tính hạn mức giao đất nông nghiệp.
8. Diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do nhận chuyển nhượng, thuê, thuê lại, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ người khác, nhận khoán, được Nhà nước cho thuê đất không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều này.”
B. Đối với đất ở.
- Đối với trường hợp người sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì việc cấp và hạn mức đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại điều 100 Luật đất đai năm 2013.
Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy  chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Đối với những trường hợp người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013.
Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013 tại Điều 20 quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai như sau:
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.
Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;
b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;
c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;
d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp sử dụng đất; phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đất đã sử dụng từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch; chưa có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp phải thu hồi thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 2 Điều 143 và Khoản 4 Điều 144 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức giao đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.
Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;
b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này;
c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này;
d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
3. Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân cùng sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.
Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở có nguồn gốc của ông cha để lại hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất có nguồn gốc của ông cha để lại, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không vi phạm pháp luật đất đai thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định đối với từng thửa đất đó.
4. Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở của địa phương để xác định diện tích đất ở trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này được thực hiện theo quy định tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp lệ.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 và Khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai;
c) Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích hiện trạng đang sử dụng như trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này; nếu người sử dụng đất đề nghị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
6. Việc thực hiện nghĩa vụ tài chính khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong các trường hợp quy định tại Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật.
7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều này mà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định.”
Như vậy việc xác định hạn mức sử dụng đất được áp dụng theo quy định của pháp luật đất đai và phụ thuộc vào quy định cụ thể của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh từng địa phương cụ thể căn cứ vào quỹ đất của địa phương và quy hoạch phát triển vùng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.



Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

Đôi nét về luật sư: LS Nguyễn Mạnh Cường

Xuất phát từ nhiều lý do, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân có thể bị xâm phạm bởi các chủ thể khác nhau. Khi đó, bạn sẽ cần đến sự trợ giúp của các luật sư để bảo vệ quyền lợi của mình trong các vướng mắc pháp lý.
Chúng tôi xin giới thiệu Luật sư Nguyễn Mạnh Cường, một luật sư giỏi, giàu kinh nghiệm, đáng tin cậy để giải quyết các vấn đề pháp lý của bạn.
Luật sư Nguyễn Mạnh Cường nguyên là Chánh án Tòa án phúc thẩm Tòa án quân sự trung ương, nguyên là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hiện nay, Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Với hơn 30 năm kinh nghiệm hành nghề, Luật sư Nguyễn Mạnh Cường là một trong những luật sư giỏi hàng đầu tại Việt Nam, là luật sư chuyên về tranh tụng, giải quyết các án oan, án khó, bảo vệ thành công quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng của mình. Đặc biệt, Luật sư đã tham gia giải quyết, bảo vệ thành công quyền lợi cho hàng trăm, hàng nghìn khách hàng trên cả nước trong các tranh chấp về đất đai, nhà ở.
Với kiến thức luật chuyên sâu, giàu kinh nghiệm và sự tận tâm với nghề, Luật sư Nguyễn Mạnh Cường sẽ là một trong những lựa chọn hàng đầu để giải quyết các vấn đề, vụ việc pháp lý trong các lĩnh vực: Hình sự, Dân sự, Hành Chính, Đất đai, Hôn nhân gia đình, Thừa kế, Kinh doanh thương mại, Lao động, Sở hữu trí tuệ, …
Các dịch vụ pháp lý cụ thể:
- Bào chữa cho bị can, bị cáo; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong các vụ án Hình sự;
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong các vụ án: Dân sự, Hành chính, Đất đai, Kinh tế, Hôn nhân gia đình, …
- Giải quyết các vụ việc tranh chấp hợp đồng, tranh chấp đất đai, tài chính, sở hữu trí tuệ, đầu tư, doanh nghiệp…
- Cung cấp dịch vụ xác minh dân sự, xác minh thông tin đối tác, truy tìm nguồn gốc hàng hóa, thu thập chứng cứ phục vụ giải quyết kiếu nại, tố cáo, khởi kiện tại Trung tâm trọng tài, Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền.
- Nhận xử lý các vụ án khó, án oan sai, án phức tạp, án bị kéo dài
Dịch vụ luật sư riêng cho cá nhân, gia đình, tổ chức, doanh nghiệp
-          
Mọi thắc mắc, yêu cầu tư vấn xin liên hệ:
LUẬT SƯ NGUYỄN MẠNH CƯỜNG – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội
Sđt: 0912.295.505

Địa chỉ: P.1107, Tháp A, 173 Đường Xuân Thủy, Dịch Vọng Hậu, Q. Cầu Giấy, Hà Nội

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

Giới thiệu về luật sư: LS Phan Minh Thanh

Luật sư phải là những người có trình độ, hiểu biết, bản lĩnh và những kỹ năng quan trọng mới có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của khách hàng. Những quyền lợi này không chỉ là về vật chất, kinh tế, mà còn liên quan đến cả tự do và tính mạng con người. Và để bảo vệ quyền và lợi ích của quý khách hàng, chúng tôi xin giới thiệu một trong những chuyên gia hàng đầu, một luật sư giỏi: Luật sư Phan Minh Thanh.
Luật sư Phan Minh Thanh hiện nay là thành viên của Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội. Luật sư còn là một Tiến sĩ Luật học với kiến thức chuyên sâu và hơn 20 năm kinh nghiệm trong nghề.
Luật sư, TS. Phan Minh Thanh đã giải quyết và bảo vệ thành công quyền lợi của rất nhiều khách hàng trong các vụ án về: Dân sự, Lao động, Đất đai, Hôn nhân gia đình, Kinh tế, Hành chính,…, bảo vệ quyền lợi cho các bị cáo trong các vụ án khó, oan sai trong cả nước, đặc biệt là các vụ án khó, phức tạp về đất đai luôn được luật sư giải quyết một cách thuyết phục.
Luật sư Phan Minh Thanh luôn là địa chỉ được khách hàng tin tưởng để giải quyết các vấn đề pháp lý của mình.
Hãy liên hệ ngay để được cung cấp các dịch vụ pháp lý:
- Tư vấn pháp luật trên mọi lĩnh vực;
- Bào chữa cho bị can, bị cáo; Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong các vụ án Hình sự;
- Giải quyết tranh chấp về Đất đai, Dân sự, Hôn nhân gia đình, Lao động, Kinh doanh thương mại, Doanh nghiệp, Sở hữu trí tuệ, Đầu tư…;
- Đại diện ngoài tố tụng;
- Điều tra dân sự, xác minh thông tin đối tác, truy tìm nguồn gốc hàng hóa, thu thập chứng cứ phục vụ giải quyết kiếu nại, tố cáo, khởi kiện tại Trung tâm trọng tài, Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền;
- Xử lý các vụ án khó, án oan sai, án phức tạp, án bị kéo dài.


Mọi thắc mắc xin liên hệ:
LS,TS. PHAN MINH THANH – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
Điện thoại: 0968.829.818

Địa chỉ: P.1107, Tháp A, 173 Đường Xuân Thủy, Dịch Vọng Hậu, Q.Cầu Giấy, Hà Nội

Những lưu ý khi nộp tiền mua nhà cho dự án bất động sản

Việc mua nhà ở, chung cư tại các dự án bất động sản đang trong quá trình xây dựng hiện nay diễn ra khá phổ biến, đem lại một số lợi ích cho cả người mua nhà và cả chủ đầu tư. Tuy nhiên, hoạt động này cũng tiềm ẩn những rủi ro khôn lường.

Một ví dụ điển hình chính là Dự án B5 – Cầu Diễn trong vụ án cựu Đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga về tôi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Luật sư Phan Minh Thanh – Hãng luật IMC nhận định: “Vụ án Cựu Đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga là vụ đại án với hơn 700 khách hàng và người liên quan, thu tiền hợp đồng lên đến hơn 300 tỷ đồng. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như vậy, tuy nhiên phải kể đến sự thiếu sót trong tìm hiểu thông tin và quy định pháp luật về dự án của người mua nhà bởi dự án B5 – Cầu Diễn vẫn chưa đủ điều kiện để huy động vốn nhưng nhiều người vẫn tiến hành góp vồn và phải chịu những thiệt hại khi nhà đầu tư thiếu năng lực”. Vậy làm thế nào để tránh những rủi ro cho bản thân khi mua nhà ở hình thành trong tương lai tại các dự án nhà ở thương mại hiện nay?


Thứ nhất, về năng lực của chủ đầu tư.

Theo quy định của Luật Nhà ở 2014, để trở thành chủ đầu tư xây dựng dự án xây dựng nhà ở thương mại, cá nhân, tổ chức phải đáp ứng những điều kiện theo quy định mà trước hết phải thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, có đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp và có vốn pháp định, và có vốn ký quỹ, phải đảm bảo năng lực tài chính để thực hiến dự án…. Với những thông tin này, khách hàng mua nhà có thể yêu cầu phía chủ đầu tư cung cấp các tài liệu chứng minh, hoặc có thể tìm hiểu qua các nguồn thông tin đáng tin cậy. Người mua nhà chỉ nên tin tưởng và đầu tư vào các dự án với chủ đầu tư có năng lực tài chính tốt, có các dự án đã hoàn thành, dự án có hồ sơ sạch, không có khiếu kiện, mà không nên tin tưởng vào “danh tiếng” của bất kỳ cá nhân cụ thể nào.

Thứ hai, về tiến độ thực hiện dự án và khả năng huy động vốn.

Theo quy định tại Điều 68 Luật Nhà ở 2014, việc huy động vốn về hình thức phải phù hợp với từng loại nhà ở, phải đủ điều kiện huy động vốn, đảm bảo công khai, minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có vốn cho phát triển nhà ở…. Đặc biệt, đối với trường hợp mua nhà trả trước theo hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai, nhà ở có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, có Giấy phép xây dựng, giấy tờ nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng tiến độ dự án, trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đich để ở thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó (Nghị định 99/2015/NĐ-CP). Ngoài ra, chủ đầu tư phải có văn bản gửi Sở Xây dựng nơi có nhà ở, và được cơ quan này trả lời bằng văn bản về nhà ở có đủ điều kiện được bán hay không. Như vậy, khi có nhu cầu mua nhà ở hình thành trong tương lai, người mua cần tìm hiểu về các thông tin liên quan đến việc nhà ở đã đủ điều kiện để bán hay chưa bằng cách yêu cầu chủ đầu tư cung cấp hồ sơ pháp lý và tình hình thực tế của dự án. Do đó, đối với những chủ đầu tư không chứng minh được hồ sơ pháp lý đủ điều kiện để huy động vốn hay thực tế dự án vẫn chưa được triển khai theo đúng quy định thì khách hàng cần cân nhắc rất kỹ lưỡng bởi nếu không có đủ các điều kiện và năng lực thực hiện dự án thì rủi ro sẽ là rất cao, thậm chí có khả năng mất trắng khi góp vốn, mua nhà trong những trường hợp như Dự án B5 – Cầu Diễn nêu trên.


Rõ ràng, những lợi ích của việc mua nhà hình thành trong tương lai là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, người mua nhà cần hết sức tỉnh táo trong việc lựa chọn dự án và chủ đầu tư để bảo vệ quyền lợi của mình và không trở thành bị hại như trong vụ án cựu Đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga Dự án B5 – Cầu Diễn. 

Mọi thắc mắc và yêu cầu tư vấn, xin liên hệ:
LS,TS. PHAN MINH THANH – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
Email: Phanminhthanh1102@gmail.com
LUẬT SƯ NGUYỄN MẠNH CƯỜNG – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội
Sđt: 0912.295.505/01658.259.518
Địa chỉ: P.1107, Tháp A, 173 Đường Xuân Thủy, Dịch Vọng Hậu, Q.Cầu Giấy, Hà Nội

Thứ Tư, 18 tháng 10, 2017

Tuyên án vụ Cựu ĐBQH Châu Thị Thu Nga lừa đảo, chiếm đoạt tài sản

Vào 15h45 ngày 16/10/2017, phiên tòa sơ thẩm vụ án Châu Thị Thu Nga về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sau thời gian nghị án kéo, HĐXX đã tiến hành tuyên án. 

HĐXX đã quyết định tuyên phạt: bị cáo Châu Thị Thu Nga, cựu ĐBQH, cựu CT HĐQT Housing Group tù chung thân. Các bị cáo còn lại bị tuyên phạt mức án như sau: Nguyễn Trường Sơn, cựu Phó TGĐ công ty Housing Group: 6 năm tù; Lê Hồng Cương, cựu Phó TGĐ công ty Housing Group: 4 năm tù; Nguyễn Vũ Hùng, cựu Phó TGĐ công ty Housing Group: 30 tháng tù; Phan Thanh Tuyên, cựu Phó TGĐ công ty Housing Group: 24 tháng tù; Nguyễn Thị Tình, cựu Giám đốc sàn dịch bất động sản thuộc công ty Housing Group: 7 năm tù; Lưu Thị Thúy, cựu giám đốc Sàn giao dịch bất động sản thuộc công ty Housing Group: 36 tháng tù; Phạm Thị Thu Hạnh, cựu Kế toán trưởng Housing Group: 36 tháng tù; Đinh Phúc Tiếu, cựu Kế toán trưởng Housing Group: 36 tháng tù cho hưởng án treo; Đoàn Thanh Thủy, cựu quyền Kế toán trưởng công ty Housing Group: 24 tháng tù.
Như vậy, mặc dù quá trình xét xử đã cho thấy vụ án còn có nhiều tình tiết quan trọng chưa được làm rõ, nhiều bất đồng quan điểm trong định tội và giải quyết vụ án tuy nhiên, tòa vẫn tiến hành tuyên hình phạt đối với các bị cáo.
Về phía những người bị hại, đa số những người này mong muốn dự án B5 được tiếp tục thực hiện bởi hi vọng đòi lại tiền từ bà Nga hầu như là không có. Tại phiên tòa, nhiều người tỏ ra bức xúc khi những yêu cầu của mình không được tòa giải quyết. Họ mong muốn dự án tiếp tục được triển khai để lấy nhà do nhận thấy rằng bà Nga không có khả năng chi trả số tiền lớn như vậy. Tuy nhiên với tình trạng pháp lý và khả năng thực tế của Housing group thì việc triển khai dự án cũng là điều khó khả thi.
Luật sư Phan Minh Thanh - Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội nhận định rằng: "Khả năng vụ án này sẽ bị kháng cáo là rất cao, từ cả phía các bị cáo và  cả người bị hại. Bởi rõ ràng, những tình tiết trong vụ án vẫn chưa được làm rõ, các vấn đề liên quan đến bồi thường, giải quyết hậu quả pháp lý vẫn chưa được giải quyết triệt để."                                                       

Vụ án cựu ĐBQH Châu Thị Thu Nga là một trong những vụ án thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Với tính chất phức tạp cũng như số lượng bị hại rất lớn, việc giải quyết hậu quả pháp lý cũng là vấn đề cần được các cơ quan có thẩm quyền can thiệp, giải quyết, tránh tình trạng khiếu kiện kéo dài, bảo vệ quyền lợi cho những người liên quan.